Tập trung hoàn thiện cơ chế, chính sách đặc thù, khơi thông nguồn lực phát triển du lịch Việt Nam

Cập nhật: 27/10/2026
(TITC) - Sáng ngày 26/10, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh đã chủ trì Hội nghị lấy ý kiến Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch Việt Nam.

Dự hội nghị có Ủy viên dự khuyết BCH Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Huy Dũng; Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hồ An Phong; lãnh đạo Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam; lãnh đạo các Cục, Vụ, đơn vị thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; các cơ quan trung ương; Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội; đại diện Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Tài chính; đại diện các doanh nghiệp, hiệp hội hoạt động trong lĩnh vực du lịch.

Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh phát biểu khai mạc hội nghị. Ảnh: TITC

Phát biểu khai mạc tại hội nghị, Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh đánh giá cao sự tham gia, đóng góp ý kiến của các cơ quan Trung ương, các bộ, ngành và cộng đồng doanh nghiệp trong quá trình xây dựng cơ chế, chính sách phát triển du lịch Việt Nam.

Bộ trưởng nhấn mạnh, Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới đã xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trong thời gian qua, các cơ quan của Chính phủ, cơ quan Trung ương đã tham gia vào quá trình xây dựng cơ chế, chính sách nhằm cụ thể hóa các chủ trương của Đảng. Đặc biệt, ý kiến đóng góp của cộng đồng doanh nghiệp đã được quan tâm, tiếp thu trong quá trình xây dựng chính sách.

Trên cơ sở đó, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 263/NQ-CP ngày 07/09/2026 để cụ thể hóa và triển khai Nghị quyết số 26-NQ/TW. Thực hiện chủ trương của Thủ tướng Chính phủ, các cơ quan chức năng được giao tham mưu xây dựng, trình Quốc hội ban hành nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch Việt Nam, qua đó cụ thể hóa các quan điểm, định hướng quan trọng của Nghị quyết số 26.

Theo Bộ trưởng, Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch Việt Nam có ý nghĩa quan trọng trong việc thể chế hóa các chủ trương lớn, đồng thời cụ thể hóa những định hướng, tư duy mới về phát triển du lịch trong giai đoạn mới.

Bộ trưởng bày tỏ kỳ vọng nghị quyết sau khi được Quốc hội thông qua sẽ tạo ra những cơ chế, chính sách cụ thể, thiết thực, góp phần tháo gỡ các điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực xã hội và nguồn lực từ cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực du lịch. Qua đó, tạo động lực thúc đẩy ngành du lịch phát triển mạnh mẽ hơn trong thời gian tới.

Bộ trưởng nhấn mạnh mong muốn các cơ quan, đơn vị và doanh nghiệp tiếp tục đóng góp ý kiến thiết thực, giúp hoàn thiện các cơ chế, chính sách, bảo đảm nghị quyết sau khi được ban hành có tính khả thi cao và thực sự đi vào cuộc sống.

Hoàn thiện chính sách theo hướng có trọng tâm, sát thực tiễn

Báo cáo tại hội nghị, Phó Cục trưởng Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam Hà Văn Siêu cho biết, dự thảo Nghị quyết được xây dựng nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới và Nghị quyết số 263/NQ-CP ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW.

Nghị quyết hướng tới 03 mục tiêu: tạo cú hích thu hút đầu tư, hình thành sản phẩm, điểm đến có sức cạnh tranh quốc tế; giảm chi phí, mở rộng không gian kinh doanh cho doanh nghiệp, để hộ kinh doanh và cộng đồng dân cư thực sự tham gia, hưởng lợi từ du lịch; nâng sức cạnh tranh của điểm đến, tăng thời gian lưu trú, chi tiêu của du khách và đóng góp của du lịch vào tăng trưởng.

Dự thảo gồm 12 điều, lựa chọn những chính sách then chốt, áp dụng có trọng tâm tại các trung tâm du lịch lớn, khu du lịch quốc gia, địa bàn du lịch cộng đồng và vùng khó khăn; ưu đãi gắn với điều kiện, kết quả và cơ chế giám sát. Các chính sách được thiết kế trên nguyên tắc bám sát tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW.

Ủy viên dự khuyết BCH Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Huy Dũng phát biểu tại hội nghị. Ảnh: TITC

Dự thảo Nghị quyết đề ra 6 nhóm chính sách trọng tâm. Trong đó, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư dự án phát triển du lịch, phân tầng theo quy mô và sức lan tỏa; dự án lớn được hưởng ưu đãi mạnh về thuế, tiền thuê đất, thời hạn hoạt động; địa bàn khó khăn được hạ ngưỡng điều kiện để kéo đầu tư về vùng sâu, vùng xa. Giảm chi phí cho doanh nghiệp, gắn kết với cộng đồng; khách sạn chất lượng cao, mật độ xây dựng thấp được giảm tiền thuê đất cho không gian xanh; hỗ trợ cho các doanh nghiệp mở đường bay mới, tiêu thụ dài hạn sản phẩm OCOP. Mở không gian cho mô hình kinh doanh mới, kinh tế đêm, kinh tế chia sẻ, du lịch xanh, du lịch số, du lịch y tế được ưu đãi thuế; cho phép thí điểm có kiểm soát khu giải trí, phố lễ hội hoạt động 24/7, cấp phép một lần cho các sự kiện định kỳ. Đồng thời, tập trung đầu tư vào con người; ưu đãi thuế thu nhập cá nhân cho chuyên gia, nhân lực chất lượng cao tới các trung tâm du lịch; hỗ trợ đào tạo, nhất là cho lao động nông thôn, đồng bào dân tộc thiểu số; bố trí nhà ở cho người lao động tại các dự án du lịch. Chính sách thị thực thông thoáng theo hướng mở rộng miễn thị thực, linh hoạt theo thị trường, ưu tiên khách chi tiêu cao, lưu trú dài ngày. Bên cạnh đó, Nhà nước dẫn dắt bằng nguồn lực công, ưu tiên hạ tầng kết nối, bảo đảm kinh phí xúc tiến quốc gia, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, cộng đồng dân cư phát triển du lịch xanh.

Dự thảo tập trung vào những nội dung quan trọng, cần thiết có chính sách để thể chế hóa Nghị quyết 26. Trọng tâm là tạo động lực cho các nhà đầu tư, giảm chi phí cho doanh nghiệp, mở không gian phát triển cho các mô hình kinh doanh mới, cải thiện thu nhập của người lao động và tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng.

Tập trung tháo gỡ điểm nghẽn từ thực tiễn, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp

Phát biểu định hướng tham vấn tại hội nghị, Ủy viên dự khuyết BCH Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Huy Dũng nhấn mạnh, du lịch Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực trong nhiều năm qua, song trước yêu cầu phát triển mới của đất nước, ngành cần tiếp tục có những đổi mới mạnh mẽ, mang tính đột phá để thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn có ý nghĩa chiến lược. Muốn vậy, cần huy động thêm nguồn lực xã hội đầu tư phát triển du lịch, hình thành các sản phẩm hấp dẫn, gia tăng mức chi tiêu và thời gian lưu trú của du khách, nâng cao năng suất lao động toàn ngành, đồng thời tạo thêm việc làm và thu nhập cho người dân.

Theo Thứ trưởng, mục tiêu Nghị quyết hướng tới xây dựng những cơ chế, chính sách đặc thù tạo động lực đủ mạnh để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư, tháo gỡ khó khăn, tạo thuận lợi trong tiếp cận và bảo đảm tính khả thi khi triển khai. Vì vậy, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch mong muốn nhận được ý kiến góp ý thẳng thắn, cụ thể từ cộng đồng doanh nghiệp và các hiệp hội, tập trung vào các nhóm chính sách với các vấn đề tham vấn, đồng thời tiếp nhận những đề xuất khác xuất phát từ thực tiễn hoạt động.

Đối với nhóm chính sách ưu đãi đầu tư, cần đánh giá tính phù hợp của các ngưỡng vốn, lao động đối với từng nhóm dự án, tránh bỏ sót những dự án ứng dụng công nghệ, sử dụng ít lao động nhưng tạo ra giá trị gia tăng cao; đồng thời xem xét mức độ hấp dẫn của các gói ưu đãi và khả năng cam kết, đo lường hiệu quả đầu tư thông qua giải ngân, doanh thu, việc làm, liên kết địa phương và thu hút khách quốc tế.

Về hỗ trợ cơ sở lưu trú, mở đường bay mới và liên kết tiêu thụ sản phẩm, cần làm rõ điều kiện áp dụng ưu đãi, phương thức hỗ trợ hàng không gắn với hiệu quả khai thác đường bay, cũng như giải pháp thúc đẩy doanh nghiệp du lịch tăng cường sử dụng sản phẩm địa phương, bảo đảm chất lượng và tính ổn định của chuỗi cung ứng.

Phó Cục trưởng Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam Hà Văn Siêu trình bày báo cáo dự thảo Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch Việt Nam. Ảnh: TITC

Về chính sách phát triển các mô hình kinh doanh mới, kinh tế đêm và thử nghiệm có kiểm soát, doanh nghiệp cần chỉ rõ những vướng mắc về thủ tục, điều kiện kinh doanh và cơ chế quản lý đang cản trở việc triển khai các mô hình mới. Việc đơn giản hóa thủ tục, tạo điều kiện cho các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, lễ hội và giải trí vận hành linh hoạt cần đi đôi với yêu cầu bảo đảm an toàn, môi trường và trách nhiệm với cộng đồng.

Liên quan đến phát triển nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng đào tạo, cần xác định đúng những vị trí, kỹ năng còn thiếu hụt, xây dựng tiêu chí phù hợp đối với chuyên gia và nhân lực chất lượng cao, đồng thời đánh giá hiệu quả của các chính sách hỗ trợ đào tạo, tuyển dụng và nhà ở cho người lao động.

Đối với chính sách thị thực và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế, cần hướng đến nâng cao sức cạnh tranh của Việt Nam so với các điểm đến trong khu vực, hướng tới những thị trường trọng điểm và nhóm khách có mức chi tiêu cao, thời gian lưu trú dài. Tuy nhiên, việc mở rộng chính sách thị thực phải được cân nhắc hài hòa với yêu cầu bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Đây là vấn đề cần được nghiên cứu thận trọng nhằm nâng cao sức cạnh tranh của điểm đến nhưng vẫn giữ vững lợi thế về an toàn, an ninh của du lịch Việt Nam.

Về phát triển du lịch cộng đồng, doanh nghiệp nhỏ và liên kết điểm đến, cần làm rõ nhu cầu hỗ trợ thực tế của các điểm du lịch tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, hải đảo và nông thôn; đồng thời tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp lữ hành trong kết nối thị trường, đào tạo, tiêu thụ sản phẩm và chia sẻ lợi ích với cộng đồng. Các điều kiện, thủ tục hỗ trợ cũng cần được thiết kế theo hướng thuận lợi để doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ kinh doanh và người dân có thể tiếp cận.

Đối với nhóm chính sách về hạ tầng, xúc tiến, tín dụng và tổ chức thực hiện, doanh nghiệp cần chỉ rõ những điểm nghẽn đang trực tiếp cản trở hoạt động đầu tư, kinh doanh; đồng thời góp ý về cơ chế hỗ trợ tín dụng, thủ tục xác nhận điều kiện thụ hưởng và phương thức kiểm tra, giám sát sau hỗ trợ, bảo đảm minh bạch, nhanh chóng, hạn chế phát sinh thủ tục qua nhiều cơ quan.

Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng nhấn mạnh, các nhóm chính sách với các vấn đề tham vấn cụ thể được đưa ra nhằm tập trung lấy ý kiến trực tiếp từ những chủ thể sẽ thụ hưởng và triển khai chính sách trong thực tế. Các ý kiến phải xuất phát từ thực tiễn hoạt động, tập trung vào những vấn đề thiết thực và đề xuất cụ thể nội dung cần sửa đổi. Ngoài các nội dung đã gợi mở, Bộ VHTTDL mong muốn tiếp nhận thêm những vấn đề quan trọng khác mà doanh nghiệp nhận thấy cần được giải quyết. Các ý kiến sẽ là cơ sở để cơ quan soạn thảo tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách theo hướng sát thực tiễn, có tính khả thi, tạo điều kiện để doanh nghiệp đầu tư, phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam.

Đề xuất cơ chế đặc thù thực chất, linh hoạt và đồng bộ

Đóng góp ý kiến tại Hội nghị, đại diện các Bộ, ngành, doanh nghiệp cơ bản đồng thuận với dự thảo Nghị quyết. Các đại biểu đều khẳng định, việc xây dựng các cơ chế, chính sách đặc thù cần tập trung vào những vấn đề thiết thực, có khả năng tháo gỡ điểm nghẽn và tạo đột phá cho ngành Du lịch.

Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Tạ Văn Hạ trao đổi tại hội nghị. Ảnh: TITC

Theo Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Tạ Văn Hạ, dự thảo Nghị quyết đã tiếp cận đúng những vấn đề thực tiễn của ngành du lịch, song cần làm rõ hơn các cơ chế thực sự mang tính đột phá. Ông đề nghị rà soát tiêu chí quy mô đối với dự án du lịch nông nghiệp, du lịch sinh thái để tránh tạo rào cản cho nhà đầu tư; đồng thời bổ sung, làm rõ chính sách phát triển văn hóa ẩm thực, coi đây là một sản phẩm có tiềm năng quảng bá hình ảnh Việt Nam và thu hút khách quốc tế.

Đối với các chính sách ưu đãi hỗ trợ đầu tư, ông cho rằng cần nghiên cứu quy định những cơ chế đặc thù thực chất, thay vì chủ yếu dẫn chiếu các quy định hiện hành của Luật Đầu tư và các văn bản liên quan. Ông cũng đề nghị rà soát tiêu chí mật độ xây dựng đối với khách sạn đô thị để bảo đảm phù hợp thực tiễn, đồng thời xem xét bổ sung chính sách tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp và bố trí các nội dung này đúng với tính chất của điều khoản về tổ chức thực hiện.

Bà Ngô Thị Hương - Tổng Giám đốc Vinpearl chia sẻ. Ảnh: TITC

Về phía các doanh nghiệp, bà Ngô Thị Hương - Tổng Giám đốc Vinpearl đề xuất mở rộng địa bàn ưu tiên áp dụng chính sách, bổ sung các điểm đến trọng điểm nhằm tăng sức cạnh tranh của du lịch Việt Nam. Bà cũng kiến nghị làm rõ cách xác định điều kiện hưởng ưu đãi đối với các tổ hợp du lịch quy mô lớn có nhiều pháp nhân, nhiều giai đoạn đầu tư; đồng thời cân nhắc không áp dụng cứng nhắc tiêu chí về số lượng lao động, bảo đảm phù hợp với các dự án ứng dụng công nghệ và tự động hóa.

Về đối tượng hưởng ưu đãi, bà đề nghị xem xét bổ sung các dự án nâng cấp, cải tạo cơ sở lưu trú hiện hữu, qua đó nâng cao chất lượng dịch vụ mà không cần mở rộng quỹ đất. Bà cũng đề xuất nghiên cứu cơ chế áp dụng đối với biệt thự biển phục vụ hoạt động du lịch, nghỉ dưỡng, đồng thời làm rõ điều kiện ưu đãi cho khách sạn nằm trong khu đô thị hoặc tổ hợp đa chức năng.

Bên cạnh đó, bà kiến nghị nâng cao hiệu quả chính sách về thị thực điện tử; đồng thời phân loại dự án đang hoạt động, đang xây dựng, mở rộng hoặc đã có chủ trương và cam kết vốn để thiết kế điều kiện áp dụng chính sách phù hợp.

Ông Nguyễn Quang Trung - Phó Tổng Giám đốc Vietnam Airlines phát biểu. Ảnh: TITC

Ông Nguyễn Quang Trung - Phó Tổng Giám đốc Vietnam Airlines nhấn mạnh vai trò của hàng không trong kết nối quốc tế và phát triển du lịch. Đồng thời, ông cho rằng cần hoàn thiện cơ chế hỗ trợ mở đường bay mới theo hướng có nguyên tắc, tiêu chí và phương thức triển khai rõ ràng. Theo ông, đường bay quốc tế thường xuyên phục vụ du khách trong nước và quốc tế, vì vậy cần có cơ chế phối hợp và nguồn lực hỗ trợ phù hợp, tránh giao toàn bộ trách nhiệm cho một địa phương nhưng thiếu căn cứ thực hiện.

Bên cạnh đó, ông đề xuất nghiên cứu chính sách miễn thị thực quá cảnh tối đa 120 giờ đối với khách quốc tế có vé đi tiếp đến nước thứ ba và đáp ứng các điều kiện kiểm soát phù hợp. Chính sách này được kỳ vọng góp phần tăng sức cạnh tranh của Việt Nam trong thu hút khách quốc tế, đồng thời hỗ trợ mục tiêu phát triển Việt Nam thành trung tâm trung chuyển hàng không của khu vực.

Tại hội nghị, các đại biểu cũng đề nghị tiếp tục hoàn thiện dự thảo Nghị quyết theo hướng bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật, quy định rõ phạm vi áp dụng, địa bàn ưu tiên và tiêu chí hưởng ưu đãi phù hợp thực tiễn, gắn với hiệu quả kinh tế - xã hội và khả năng thu hút khách. Đồng thời, cần rà soát cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, tránh chồng chéo với quy định hiện hành; tháo gỡ vướng mắc về quy hoạch, đất đai, mật độ xây dựng, chính sách thuế, phí và hỗ trợ mở đường bay mới. Các ý kiến cũng nhấn mạnh việc tạo thuận lợi về thị thực, thời gian lưu trú và kết nối giao thông; đẩy mạnh xúc tiến, chuyển đổi số, phát triển sản phẩm, liên kết vùng, thu hút nhân lực chất lượng cao và tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia phát triển du lịch. Quá trình hoàn thiện chính sách cần bám sát thực tiễn, phát huy giá trị văn hóa, du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái, qua đó nâng cao sức cạnh tranh của điểm đến, kéo dài thời gian lưu trú và gia tăng chi tiêu của du khách.

Lấy hiệu quả thực thi làm thước đo, khơi thông nguồn lực phát triển du lịch

Phát biểu kết luận hội nghị, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh đánh giá cao các ý kiến đóng góp tâm huyết, trách nhiệm, được đúc kết từ thực tiễn và tiếp cận vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau, cùng hướng tới mục tiêu phát triển du lịch Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Bộ trưởng nhấn mạnh, để Nghị quyết thực sự đi vào đời sống cần được triển khai hiệu quả và nhận được sự đồng hành của các cơ quan quản lý, doanh nghiệp, hiệp hội cùng các lực lượng tham gia phát triển du lịch. Việc xây dựng Nghị quyết lần này nhằm cụ thể hóa chủ trương của Đảng, tạo điều kiện thuận lợi để khơi thông nguồn lực, phát huy các động lực phát triển và tăng cường sự gắn kết giữa Nhà nước với doanh nghiệp. Cùng với ban hành chính sách mới, cần phát huy hiệu quả các chính sách hiện hành, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để sớm đưa chính sách vào thực tiễn.

Tổng hợp ý kiến của các đại biểu, Bộ trưởng khái quát 9 nhóm vấn đề trọng tâm cần nghiên cứu, hoàn thiện, gồm: chính sách ưu đãi đầu tư; chính sách thuế, tiền thuê đất và giá điện; thị thực và thông quan quốc tế; kết nối hàng không và phát triển thị trường; tháo gỡ vướng mắc về quy hoạch, đất đai và cơ sở đầu tư; xúc tiến du lịch và phân bổ nguồn lực ngân sách; phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, du lịch cộng đồng và liên kết vùng; chuyển đổi số, mô hình kinh doanh, bản quyền và sở hữu trí tuệ; đánh giá tác động chính sách, làm rõ tính phù hợp, tính khả thi và thẩm quyền giải quyết của Quốc hội, Chính phủ, địa phương, các bộ, ngành.

Toàn cảnh hội nghị. Ảnh: TITC

Bộ trưởng cho biết, các nhóm chính sách trong dự thảo đã được xây dựng trên cơ sở tham vấn, lấy ý kiến các bộ, ngành liên quan. Qua quá trình thảo luận, các ý kiến cơ bản có sự thống nhất về những nội dung chủ yếu. Tuy nhiên, để hoàn thiện dự thảo, cơ quan soạn thảo sẽ tiếp tục rà soát từng điều khoản, phân loại rõ những nội dung có thể tiếp thu, bổ sung ngay vào Nghị quyết; những vấn đề cần cụ thể hóa trong các Nghị định, Thông tư hướng dẫn hoặc trong quá trình phân cấp, phân quyền cho địa phương; đồng thời xác định những chính sách cần phối hợp liên ngành để đánh giá tác động.

Đối với các vấn đề cần thêm thời gian nghiên cứu, Bộ trưởng cho rằng, quá trình tổ chức thực hiện sẽ là cơ sở quan trọng để tiếp tục đánh giá tác động, nhận diện những vấn đề phát sinh từ thực tiễn và có điều chỉnh phù hợp. Mục tiêu là bảo đảm các chính sách khi ban hành vừa có tính đột phá, vừa có khả năng triển khai hiệu quả.

Bộ trưởng nhấn mạnh, Nghị quyết cần vừa tạo động lực cho các dự án trong tương lai, vừa giải phóng nguồn lực và tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp đang hoạt động; vừa tạo đột phá cho các dự án lớn, vừa hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, phát triển du lịch sinh thái và tạo điều kiện để người dân tham gia, hưởng lợi từ hoạt động du lịch. Hiệu quả của Nghị quyết không chỉ được đánh giá qua số lượng cơ chế, chính sách được Quốc hội thông qua, mà quan trọng hơn là mức độ thực thi, nguồn lực được khơi thông và những giá trị mới được tạo ra ở các lĩnh vực, địa bàn. Tính hiệu quả và khả thi phải là đích đến cuối cùng trong quá trình xây dựng và thực hiện chính sách.

Bộ trưởng bày tỏ mong muốn tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp và toàn xã hội vào phát triển du lịch, góp phần nâng cao đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội và phát triển bền vững theo tinh thần Nghị quyết số 26. Các cơ quan quản lý, doanh nghiệp và hiệp hội cần cùng hướng tới mục tiêu tạo động lực mới, khơi thông nguồn lực mới và hình thành những giá trị đột phá cho du lịch Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch sẽ tiếp tục tạo điều kiện để các bên trao đổi, phối hợp thường xuyên hơn, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp, hiệp hội tham gia ngay từ đầu quá trình tổ chức thực hiện, qua đó kịp thời nhận diện, tháo gỡ khó khăn, đưa Nghị quyết vào cuộc sống.

 

Tác giả: Trung tâm Thông tin du lịch
Nguồn: Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam

Xem tiếp