Phạm Công Trứ - Danh tướng thời Lê Trung Hưng

      Khi nhắc đến Hưng Yên là nhắc tới một bề dày lịch sử là nơi sinh ra nhiều danh nhân văn hóa, anh hùng dân tộc làm dạng danh quê nhà như: Tướng quân Phạm Ngũ Lão, đại danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, nữ thi sỹ Đoàn Thị Điểm, nhà văn Vũ Trọng Phụng, họa  sỹ Tô Ngọc Vân, Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh.....Trong đó chúng ta không thể không nhắc tới Phạm Công Trứ  một công thần, một nhà chính trị tài năng của chúa Trịnh, là một trong 39 người "phò tá có công lao tài đức" thời Trung Hưng, làm đến chức Quốc lão, Thái bảo Yên Quận công.
Phạm Công Trứ  sinh ra và lớn lên tại làng Liêu Xuyên, tổng Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương, nay thuộc thôn Thanh Xá, xã Nghĩa Hiệp, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên. Ông sinh ngày 17 tháng 3 năm Kỷ Hợi (1599) trong một gia đình nho học, cha là Phạm Cai, mẹ là Nguyễn Thị Liên. Từ nhỏ ông tỏ ra rất ham học, phong độ giản dị, tính tình cương trực và nhân hậu. Được sự chăm sóc, dạy dỗ chu đáo của cha mẹ, lại được quan Huấn đạo Nguyễn Hiền (người ở xã An Tháp, cùng huyện) giúp đỡ, nên Phạm Công Trứ đã sớm nổi tiếng giỏi thơ, văn. Lớn lên, được vào học ở trường huyện Đường Hào (ông có học cả võ bị) và được xếp vào bậc "Nhiêu học" (tiên tiến xuất sắc bây giờ). Năm 29 tuổi, Phạm Công Trứ đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ, xuất thân khoa Mậu Thìn, niên hiệu Vĩnh Tộ thứ 10 (1628) đời vua Lê Thần Tông (1619- 1643), được giao giữ chức Thái thượng Tự khanh ở Hàn Lâm viện. Cả sự nghiệp và cuộc đời của ông gắn liền với việc xây dựng và phò tá triều Lê-Trịnh thế kỷ XVII.
Năm Tân Mùi (1631), ông được giao giữ chức Hiến sát sứ trấn Thanh Hóa. Năm Kỷ Mão (1639) ông giữ chức Phủ Doãn phủ Phụng Thiên (thủ đô Hà Nội ngày nay), rồi làm Tham chính Tự khanh, được phép tham gia bàn luận việc Nội phủ. Năm Dương Hòa thứ 8 (1642) ông được thăng lên Tán lý đạo Sơn Nam, coi giữ việc binh. Trong hai năm Quý Mùi (1643) và Giáp Thân (1644) ông được lệnh tham gia phối hợp với Trịnh Tạc (1657-1682) đem quân đánh dẹp quân Nguyễn Phúc Lan ở phía Nam và quân Mạc ở phía Bắc. Do có công lớn, năm Ất Dậu (1645), Phạm Công Trứ được giao chức Phó Đô ngự sử, gia phong tước Khánh Yến Bá. Ông đã cùng Nguyễn Duy Thì dẹp được cuộc nổi loạn của Trịnh Sâm, được triều đình trọng thưởng và thăng chức Ngự sử đài chính chưởng.
Năm 1657, ông được phong Đặc tiến kim tử, Vinh lộc đại phu, Lễ bộ Thượng thư kiêm Đông các Đại học sĩ, hàm Thiếu bảo, tước Yến quận công. Năm 1660, niên hiệu Vĩnh Thọ thứ 3, ông dâng sớ xin kiệm ước dùng văn võ, thưởng phạt nghiêm minh, được triều đình chấp thuận và thực hiện. Năm Tân Sửu (1661), ông đem đại quân đi đánh Nguyễn Phúc Tân ở Thuận Hóa. Thắng trận trở về ông được phong hàm Thiếu Bảo tước Quận công. Năm Nhâm Dần (1662), niên hiệu Vạn Khánh, triều đình cử ông trông coi Quốc Tử Giám và làm Tham tụng ở phủ Chúa Trịnh. Thời gian này ông còn cho xây dựng bia tiến sĩ tại huyện Đường Hào quê ông, khích lệ kẻ có tài, rèn luyện nho phong.
Năm Ất Tỵ (1665), ông được Tây vương Trịnh Tạc giao cho việc khảo đính bộ sách Sử ký toàn thư. Phạm Công Trứ cùng các cộng sự dày công nghiên cứu, ông đã dấn từ họ Hồng Bàng đến Ngô sứ quân để làm Đại Việt sử ký ngoại kỷ toàn thư, theo trước tác của Ngô Sỹ Liên. Ngoài ra, ông đã tham khảo thêm tài liệu dã sử của Đăng Bính và các sách sử đương thời để bổ sung thêm, gọi chung là Đại Việt sử ký toàn thư, gồm 25 tập. Cũng trong thời gian này ông đã biên soạn bộ sách Bốn mươi bảy điều giáo hóa bổ sung cho luật Hình, xây dựng đạo đức góp phần giữ vững kỷ cương phép nước.
Vào năm Đinh Mùi (1667) và Kỷ Dậu (1669), Phạm Công Trứ cùng chúa Trịnh Căn cầm quân đánh bại quân  Mạc tại Cao Bằng, chặn đứng âm mưu của nhà Thanh (Trung Quốc) mượn cớ “Phù Mạc diệt Lê” xâm lược nước ta.
Sau 40 năm phục vụ đất nước, năm Mậu Thân ( 1668), vua phong chức Quốc lão cho ông, được tham dự các việc cơ mật trong triều. Cùng thời gian này, ông dâng sớ xin nghỉ hưu ba lần mới được nhà vua chấp thuận. Khi về hưu, ông được thăng Thái Bảo, chúa Trịnh tặng ông đôi câu đối thêu vào cờ:

Điều đỉnh nại, nhiếp âm dương, triều đình trụ thạch 
         Hoàn quy mô, định hiệu lệnh, quốc gia đống lương.
Nghĩa:
Nêm canh đỉnh vạc, điều hòa khí âm dương, làm cột đá cho triều đình 
     Định ra các hiệu lệnh, hoàn thành được quy mô, là rường cột của Nhà nước.

Năm Quý Mùi (1673), triều đình lại mời ông ra làm tể tướng, coi việc 6 bộ, tham tán các việc cơ mật. Ngày 28 tháng 10 năm ất Mão (1675) Phạm Công Trứ qua đời tại quê nhà, thọ 76 tuổi. Triều đình cho xây dựng đền thờ ông, vua Lê thương tiếc phong tặng "Thái tể, thụy là Trung Cầu".
Cả cuộc đời, ông đã đóng góp công lao xây dựng triều đình, đất nước trong mọi lĩnh vực như chính trị, quân sự, văn học, sử học, pháp luật... Phạm Công Trứ đều có những cống hiến quan trọng, là rường cột của nước nhà. Công lao đó được Phan Huy Chú, trong "Lịch triều hiến chương loại chí" viết: "... Ra đương việc nước 19 năm (ông) đặt ra phép tắc, sửa soạn kỷ cương; đè nén những kẻ cậy thế, nhũng loạn; yêu chuộng người có phong cách tiết tháo... có đức tốt, có công lao sự nghiệp, là bậc hiền tể thứ nhất sau đời Trung Hưng..." hay như trong Gia phả họ Phạm có viết: "... ông là một nhà chính trị đại tài, lái hai con thuyền phong kiến trong lúc khó khăn...".
Ngày nay, hàng năm hai lần nhân dân địa phương cùng các con cháu trong dòng họ lại tế lễ, mở hội vào ngày 17 tháng 3 âm lịch (kỷ niệm ngày sinh) và ngày 28/10 (ngày mất) nhằm ôn lại truyền thống hào hùng của ông.

 TTTTXTDL
 

         

Bài viết liên quan